Ngoại Tổng Quát

Hiển thị các bài đăng có nhãn Phẫu Thuật Nội Soi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phẫu Thuật Nội Soi. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 31 tháng 7, 2011

Nang gan- Chẩn đoán và điều trị

Nang gan (simple hepatic cyst) là một sang thương lành tính và khá phổ biến. Khoảng 5% dân số có một hay vài nang trong gan. Đôi khi nang gan được phát hiện tình cờ khi siêu âm, nội soi ổ bụng hay phẫu thuật mở. Trong phần lớn các trường hợp, nang gan không biểu hiện bất kỳ một triệu chứng nào. Chỉ khoảng 10-15% người có nang gan là có triệu chứng và cần đến sự can thiệp của y khoa.

Nang gan được cho là có nguyên nhân bẩm sinh. Giả thiết được công nhận nhiều nhất cho rằng nang gan là kết quả của sự dãn của microhamartomas, một sang thương tạo thành do sự bất toàn trong quá trình định dạng của biểu mô ống mật trong thời kỳ phôi thai.

Về mặt giải phẫu bệnh, vỏ nang gan được lót bởi một lớp tế bào biểu mô giống như biểu mô đường mật. Dịch nang là do các tế bào biểu mô này tiết ra, có thành phần tương tự như huyết tương. Dịch nang không chứa bilirubin, amylase cũng như bạch cầu. Trong một số rất ít trường hợp, nang có sự thông thương với dịch mật và dịch nang có màu vàng của mật.

Cấu tạo vi thể của một nang gan. Vỏ nang được lót bởi một lớp tế bào biểu mô giống như biểu mô ống mật.

Kích thước nang gan có thể thay đổi từ một vài milimet đến 15cm. Một người có thể có một hay nhiều nang.

Những đặc điểm để phân biệt nang gan với các tổn thương dạng nang khác của gan là:
1-Một hay nhiều nang nhưng hiện diện đơn độc
2-Vỏ bao mỏng, đều, được lót bởi một lớp tế bào biểu mô giống tế bào biểu mô ống mật
3-Dịch nang trong, có thành phần tương tự như huyết tương

Nang gan có thể "im lặng" suốt đời, cũng có thể gây ra các triệu chứng và biến chứng. Hiếm khi nang gan được phát hiện trước tuổi trưởng thành. Tuổi càng lớn, kích thước của nang gan càng tăng. Kích thước nang gan tỉ lệ với tần suất xuất hiện các triệu chứng và biến chứng. Vì thế, trừ khi được phát hiện tình cờ, nang gan thường được chẩn đoán khi bệnh nhân ở độ tuổi trung niên trở lên. Khác với bệnh gan đa nang (PCLD-Polycystic liver disease) thường gặp ở nữ, không có sự khác biệt về mặt giới tính ở những bệnh nhân bị nang gan.

Triệu chứng thường gặp nhất của nang gan là cảm giác đau tức hay ậm ạch vùng thượng vị hay hạ sườn phải. Nang gan không gây chán ăn, sụt cân vì thế nếu một bệnh nhân có những triệu chứng trên, phải nghĩ đến một tổn thương dạng nang khác của gan (xem chú thích) hơn là nang gan. Nếu nang đủ lớn, có thể sờ được gan to mềm hay thậm chí có thể sờ được trực tiếp nang gan.

Nang gan có thể chèn ép vào đường mật làm cho bệnh nhân vàng da hay chèn vào tĩnh mạch cửa gây tăng áp tĩnh mạch cửa. Nang có thể vỡ hay xuất huyết. Vỡ nang có thể tự phát hay sau một chấn thương vào vùng gan. Nếu nang di động, nang có thể bị xoắn. Vỡ nang, xoắn nang, xuất huyết trong nang thường làm cho bệnh nhân nhập viện trong bệnh cảnh bụng cấp.

Nang gan cũng có thể bội nhiễm, tạo thành áp-xe gan. Áp-xe gan do nang gan bội nhiễm có chủng loại vi khuẩn tương tự như áp-xe gan do vi trùng sinh mũ, tuy nhiên hai loại áp-xe này có thái độ điều trị tương đối khác nhau.

Xét nghiệm sinh hóa của một nang gan không có gì đặc hiệu. Trong phần lớn các trường hợp. Xét nghiệm chức năng gan cho kết quả bình thường. Một vài bệnh nhân có men gan tăng nhẹ.

Chẩn đoán xác định nang gan có thể dựa vào siêu âm. Hình ảnh của nang gan trên siêu âm là một cấu trúc có vỏ bao mỏng và đều, có phản âm kém (dịch trong).

Hình ảnh của nang gan trên siêu âm: một cấu trúc có vỏ bao mỏng và đều, có phản âm kém.

Để có thể có được thông tin toàn diện về nang gan (số lượng, vị trí, bản chất) để từ đó có hướng điều trị thích hợp, cần phải có CT. Trên CT, nang gan có vỏ bao mỏng đều, dịch nang có đậm độ cản quang thấp và đồng nhất. Thường không có sự đóng vôi ở vỏ nang. Cả vỏ nang và thành phần trong nang đều không tăng quang.

Hình ảnh của một nang gan trên CT với vỏ bao mỏng đều và dịch nang có đậm độ cản quang thấp.

Cần phân biệt nang gan với những tổn thương dạng nang khác của gan. Xin chú ý một số đặc điểm sau đây không phải là đặc điểm của một nang gan:
1-Quá nhiều nang chiếm trọn gan hay một phần lớn nhu mô gan
2-Vỏ bao dày, không đều, đóng vôi hay tăng quang
3-Dịch nang có đậm độ cản quang hơi cao hay không đồng nhất
4-Nang có một hay nhiều vách
5-Có nang con nằm trong lòng nang mẹ…

Hình ảnh của Cystadenomas gan trên CT với vỏ bao dày và đa cung, dịch nang có đậm độ cản quang khá cao và lòng nang có vách ngăn.

Bệnh gan đa nang với vô số các nang chiếm gần trọn gan phải

Nang sán chó (Hydatid cyst) ở gan với hình ảnh nang mẹ vá các nang con

Chỉ khi nang gan có triệu chứng, bệnh nhân mới cần được điều trị.

Trong lịch sử điều trị nang gan, biện pháp điều trị được thực hiện trước tiên là chọc hút nang gan. Tuy nhiên, biện pháp này cho tỉ lệ thất bại 100%, bởi vì bản chất của dịch nang là luôn luôn được tái lập.

Việc chọc hút dịch nang kết hợp với tiêm các chất gây xơ hóa cũng cho kết quả hạn chế. Chất gây xơ hóa chỉ phát huy tác dụng khi nang gan xẹp và vách nang áp lại với nhau, mà điều này hiếm khi xảy ra khi nang gan đạt kích thước đáng kể.

Cắt chỏm nang gan (ngày nay được thực hiện qua nội soi) hiện nay là phương pháp điều trị nang gan được cân nhắc đến trước tiên. Phương pháp này có kỹ thuật đơn giản nhưng kết quả thành công cao (90%). Phẫu thuật viên có thể dùng dao đốt điện hay dao cắt siêu âm để cắt chỏm nang. Một vài phẫu thuật viên, sau khi cắt chỏm, đốt lớp vỏ nang từ bên trong với mục đích không cho dịch tiết tái lập. Điều này không cần thiết vì dịch tái lập có thể hấp thu hoàn toàn qua ngả phúc mạc. Có phẫu thuật viên lóc bỏ vỏ nang. Việc lóc bỏ vỏ nang có thể làm tổn thương các nhánh tĩnh mạch cửa nằm ngay cạnh vỏ nang.

Một chỏm nang gan đang được cắt qua nội soi bằng máy đốt đơn cực
 
Nang tái phát sau cắt chỏm nang là do mép nang dính lại. Để tránh hiện tượng này, chỏm nang nên được cắt rộng rãi, sao cho sau khi cắt chỏm, nang gan có hình dạng giống như "một chiếc cốc uống trà". Một số phẫu thuật viên đính mạc nối lớn vào mép nang đã được cắt chỏm nhằm làm hạn chế khả năng hai mép nang dính vào nhau đồng thời tăng khả năng hấp thu dịch nang.

Sau khi nang đã được cắt chỏm, dịch tái lập trong nang sẽ được hấp thu hoàn toàn trong khoang phúc mạc mà không gây bất kỳ một vấn đề nào.

Phẫu thuật cắt chỏm nang tương đối an toàn. Biến chứng thường gặp nhất là tụ dịch mật dưới gan hay dưới hoành do mật rỉ từ mép gan bị cắt.

Lóc bỏ nang hay một phần gan cũng đã được một số phẫu thuật viên thực hiện, nhất là trường hợp không lại trừ được u nang của gan hay nang bị nhiễm trùng.

Nang gan nhiễm trùng tạo thành áp-xe gan. Nguyên tắc điều trị nang gan nhiễm trùng cũng giống như điều trị áp-xe gan do vi trùng sinh mũ, nghĩa là phối hợp kháng sinh với thoát lưu mũ. Tuy nhiên chọc hút nang gan nhiễm trùng mà không lưu catheter thì sẽ không hiệu quả, do dịch nang được tái lập làm cho ổ mũ "không bao giờ cạn". Do đó nang gan nhiễm trùng nên được thoát lưu mũ bằng biện pháp dẫn lưu liên tục.

Trong trường hợp nang xuất huyết hay vỡ nang, có thể cân nhắc đến phẫu thuật cắt gan.

Dịch nang có màu mật là dấu hiệu chứng tỏ nang có sự thông thương với đường mật. Trong trường hợp này, cắt chỏm nang sẽ dẫn đến tràn dịch mật khoang bụng. Do đó, phương pháp phẫu thuật được chọn lựa là cắt gan hay nối nang-hỗng tràng.

Chú thích: Những tổn thương dạng nang của gan được phân loại như sau:

A-Nang không có liên quan đến đường mật:

1-Nang không không phái do nhiễm ký sinh trùng:
-Nang gan đơn giản
-Bệnh gan đa nang
-U nang (cystadenomas, cystadenocarcinomas)
-K gan hoại tử
-Áp-xe gan

2-Nang do nhiễm ký sinh trùng: nang sán chó (hydatid cyst)

B-Nang có liên quan đến đường mật:
-Nang đường mật
-Bệnh Caroli
-Biliary cystadenomas, cystadenocarcinomas

Năm quy tắc tránh làm tổn thương đường mật trong cắt túi mật nội soi


Sau hai thập kỷ tích lũy kinh nghiệm trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi (laparoscopic cholecystectomy-(LC), y văn vẫn tiếp tục công bố những tỉ lệ tổn thương đường mật cao một cách đáng buồn. Mặc dù đã có những chương trình đào tạo nội trú bài bản và tích cực và có rất nhiều bài báo đề cập đến vấn đề này, các nhà ngoại khoa chúng ta vẫn tiếp tục trông thấy tỉ lệ 1/200 các ca tổn thương ống mật chủ (bile duct injury-BDI) trên tổng số các ca LC. Mỗi năm ở Hoa Kỳ, chúng ta thực hiện hơn 750.000 ca LC và kết quả là đã có hơn 3000 ca BDI.

Đối với những bệnh nhân kém may mắn, những tổn thương như thế này gây ra nổi đau đớn vô tận, sự tàn phế, đôi khi kéo dài suốt cả cuộc đời, và thậm chí cuối cùng dẫn đến cái chết. Đối với những bác sĩ ngoại khoa, những tổn thương thế này làm cho họ có thể đối mặt với trát hầu tòa. Vụ kiện tụng kéo dài nhiều năm có thể làm cho họ suy sụp, thậm chí có thể làm cho họ mất hết mọi nguồn thu nhập. Không cần thiết để mà nói rằng tất cả chúng ta đều cố gắng tối đa để làm sao tránh được nguy cơ xảy ra những tổn thương như thế trên bệnh nhân của chúng ta. Dựa trên mục đích này, tôi đã chắt lọc những kinh nghiệm của mình để đề ra năm quy tắc đơn giản để phòng tránh BDI hạn chế những đau khổ mà bệnh nhân phải gánh chịu cũng như những phiền toái trong cuộc đời cầm dao mổ của chúng ta.

Cho phép tôi giới thiệu đôi chút về bản thân mình. Từ năm 1990 cho đến nay (2009) tôi đã thực hiện 1500 ca LC và phụ mổ hơn 1000 ca. Trong những năm đầu tiên (1990-1995) tôi đã tổ chức những buổi tập huấn cuối tuần cho các bác sĩ ngoại khoa về kỹ thuật LC và tôi cũng đã có những bài thuyết trình trên khắp thế giới về vấn đề này.

Điều quan trọng nhất là tôi đã có 15 năm làm nhân chứng dưới vai trò một chuyên gia trong các phiên tòa liên quan đến các vụ kiện tụng sai sót của bác sĩ trong LC. Tôi biết được nhiều ca LC dẫn đến BDI. Tôi cũng đã có những nhận xét dưới cái nhìn của một chuyên gia trong phiên tòa và tranh luận mạnh mẽ với cả công tố viên và chánh án trong phiên tòa đồng thời cũng nhận được những phản hồi từ họ.

Tất cả những kinh nghiệm này đã giúp tôi đề ra công thức gồm năm quy tắc đơn giản mà nếu tuân theo nó chúng ta có thể giảm đáng kể nguy cơ BDI. Và nếu trong trường hợp đã tuân thủ theo năm bước này mà BDI vẫn xảy ra, ít nhất chúng ta cũng có cơ sở mạnh mẽ để bào chữa cho chính mình trong phiên tòa

Quy tắc 1: Không bao giờ thực hiện một ca LC mà không có sự trợ giúp của một nhà ngoại khoa có kinh nghiêm về LC

BDI là kết quả của một sự phán đoán sai về giải phẫu. Tỉ lệ phán đoán sai này sẽ giảm nếu hai phẫu thuật thuật viên cùng kết hợp với nhau. Nếu BDI là kết quả của sự nhận định sai của một phẫu thuật viên, thì hai phẫu thuật viên ít nhầm lẫn hơn ở cùng một nhận định sai. Hầu hết các ca phẫu thuật đều có thể được thực hiện thành công mà không có sự trợ thủ của một felow (tạm dịch là bác sĩ phụ tá). Tôi đã từng mổ mở cắt ruột thừa, tắc ruột, cắt đại tràng, thậm chí cả cắt ruột thừa nội soi mà không có sự trợ thủ này. Tuy nhiên LC thì hoàn toàn khác. Tôi chưa bao giờ thực hiện LC mà không có phụ tá của mình trợ thủ, cũng như chưa bao giờ để anh ta thực hiện LC mà không có sự trợ thủ của tôi. Trong 2500 ca LC mà chúng tôi thực hiện, chúng tôi đã suýt gây ra 5 ca BDI nhưng tránh được nhờ vào sự phát hiện của anh bác sĩ phụ tá, sự phát hiện mà một bác sĩ ngoại khoa bình thường không có được. Các bạn nên nhớ trong ngoại khoa, ngay cả với các thao tác tỉ mỉ và nhận định cẩn thận cũng không thể tránh được xì dò miệng nối và nhiễm trùng vết mổ. Tuy nhiên LC thì lại khác.


Tôi đã nghe được những lời ta thán từ các phẫu thuật viên trên khắp đất nước, đặc biệt ở các bệnh viện nhỏ. Những phẫu thuật viên này không chấp nhận quy tắc 1. Họ không có đủ "sự xa xỉ" để được có một phẫu thuật viên bận rộn khác trợ thủ cho mình. Hơn nữa, họ đã thực hiện hàng trăm ca LC mà không có sự trợ thủ này nhưng không có một ca BDI nào. Thực tế là như thế. Tuy nhiên, 60% các trường hợp BDI mà tôi được biết ca mổ chỉ được thực hiện chỉ bởi một phẫu thuật viên. Những ca mổ này phức tạp đến nổi hậu quả của nó vô cùng tàn khốc. Như vậy thì đánh đổi sự bất tiện này để cho bệnh nhân một cơ hội tránh được một di chứng đeo đuổi họ suốt cuộc đời là một việc đáng phải làm.

Hơn nữa, hầu hết các ca LC đều là các các ca mổ chương trình, và nếu hai phẫu thuật viên cùng quyết định hợp tác với nhau, họ có thể sắp xếp công việc của họ để cùng tham gia vào ca mổ trên. Nếu bệnh nhân của anh đau và sốt trong khi không có sẵn người phụ tá của anh ở bên cạnh, và anh nghĩ rằng bệnh nhân này không thể diễn tiến khá hơn, thì đây chính là lúc anh quyết định mổ mở cắt túi mật thay vì cố găng một mình cắt nội soi một túi mật viêm đỏ và phù nề.

Quy tắc 2: Chậm chậm thôi !

Thế nào là sự vội vàng ? Thế nào là kỹ năng về tốc độ ? Xin các bạn hãy thong thả !

Gần đây tôi đã xem một trường hợp sai sót về chuyên môn. Một ca cắt túi mật viêm cấp mà trợ thủ là một kỹ thuật viên và thời gian mổ chỉ vỏn vẹn 31 phút!. Chẳng có gì là đáng ngạc nhiên khi ca mổ dẫn đến BDI týp II !. Tôi chưa bao giờ thực hiện một ca LC nào mà thời gian mổ ngắn hơn 1 giờ. Không cần biết kỹ năng của phẫu thuật viên như thế nào, nếu một ca cắt túi mật viêm cấp qua nội soi được thực hiện trong 30 phút mà không có sự trợ thủ của một phẫu thuật viên khác, tôi có thể dự đoán tỉ lệ BDI là 10%.

Đừng "rạch một phát". Đừng dùng kim Veress và sau đó đặt trocar mù. Hãy tốn thêm một vài phút và dùng canule Hasson và bạn sẽ tránh được nguy cơ tổn thương ruột và mạch máu. Nguy cơ này sẽ cao hơn hai lần nếu bạn đặt trocar mù so với kỹ thuật Hasson đặt trocar mở. Kỹ thuật đặt mù không có tính thẩm mỹ, mang tính bất cẩn và nói thật có đôi chút hơi tàn bạo. Cũng sẽ không cần thiết để mà nói rằng không có giải thưởng nào dành cho người mổ nhanh nhất của thành phố !.

Sau đây là một số yếu tố kỹ thuật mà tôi đã sử dụng trong những năm qua giúp tôi ngăn ngừa được nguy cơ xảy ra BDI. Sau khi đã vào khoang phúc mạc một cách cẩn thận và phẫu tích thấy rõ ống túi mật, cuộc mổ mới thực sự bắt đầu. Bạn đang sắp sửa đặt một cái clip đầu tiên vào cấu trúc mà bạn cho là ống túi mật ? Xin hãy khoan ! Hãy hít một hơi thật sâu và nhìn đồng hồ. Hãy tốn thêm 10 phút nữa phẫu tích cho ống túi mật thêm rõ ràng. Hãy tiếp tục làm sạch các mô liên kết chung quanh ống túi mật. Lần theo cấu trúc này về phía túi mật để thấy nó mở rộng dần ra giống như một cái phễu. Lần theo cấu trúc này ra xa túi mật cho đến khi bạn thấy ống mật chủ. Nếu cấu trúc này thon nhỏ dần hay nó hướng về tá tràng, một vấn đề phiền toái có thể sắp xảy ra. Hãy bảo đảm rằng không có một ống nào khác đổ vào cấu trúc mà bạn cho là ống túi mật. Nếu bạn nhận định có một ống mật phụ, một ống túi mật thứ hai, một động mạch túi mật thứ hai, hãy nhớ rằng bạn có thể gặp rắc rối với nhận định này. Hãy nhìn đồng hồ một lần nữa. 10 phút đã trôi qua chưa ? Nếu bạn vẫn chưa chắc chắn 125% rằng bạn đã nắm vững giải phẫu, hãy áp dụng quy tắc 3.

Quy tắc 3: Kiến thức là quyền lực

Chuyển mổ mở có thể là một cứu cánh. Nó sẽ cung cấp cho bạn một số thông tin, thông tin mà bạn và bệnh nhân của bạn đều cần.

Đây chính là thời gian quyết định để giữ cho bệnh nhân của bạn được khỏe mạnh, để giữ cho bạn tránh xa một vụ kiện tụng. Bạn phải chụp X-quang đường mật trên bàn mổ. Nếu trên X-quang bạn thấy rõ ràng ống gan phải và trái, ống gan chung, ống túi mật, bạn có thể yên tâm đặt clip vào ống túi mật và xem như đã kết thúc cuộc mổ. Còn nếu vẫn còn nghi ngờ, chuyển mổ mở. Bạn sẽ không mất mặt và bệnh nhân của bạn cũng sẽ không thất vọng.

Một ca LC khó thì chắc chắn mổ mở cũng không đơn giản, nhưng bạn đã có lợi điểm của việc nhận định trên một phẫu trường ba chiều thay vì trên một màn hình hai chiều của mổ nội soi. Từ lời điểm này bạn sẽ có một số "chiến thuật" hay "chiêu" để có thể xử lý túi mật một cách an toàn. Còn nếu bạn vẫn ghi nhận tình trạng viêm quá dữ dội và/hoặc bất thường về giải phẫu làm cho bạn không được tự tin khi cắt túi mật ngay cả khi mổ mở, hãy đặt một ống dẫn lưu vào túi mật rồi đóng bụng và bạn và bệnh nhân của bạn sẽ tiếp tục sống mà chiến đấu trong những ngày tới.

Sau tất cả những điều kể trên, bạn có thể kết thúc cuộc mổ với BDI, và ở cuối con đường vẫn có một ca kiện tụng đang chờ bạn. Bạn đã làm tất cả để tránh xảy ra biến chứng nhưng không thể. Bạn đã không phẫu thuật với sự bất cẩn.

Hãy để sĩ diện của bạn ở bồn rửa tay. Rất nhiều phẫu thuật viên đã chiến đấu với chảy máu, với dây dính và phù nề và giải phẫu không rõ ràng mà vẫn kết thúc thành công cuộc mổ. Đó là một sự khoác lác. Đó là một sự bất cẩn.

Nếu như trước khi kết thúc cuộc mổ mà bạn vẫn còn không cảm thấy hài lòng, vẫn còn lấn cấn khả năng có thể có BDI, hãy đặt một ống dẫn lưu và canh chừng bệnh nhân suốt đêm và thực hiện xét nghiệm công thức máu toàn phần, chức năng gan, amylase và lipase huyết tương. Nếu có dịch mật chảy ra qua ống dẫn lưu hay xét nghiệm cho kết quả bất thường , hãy áp dụng quy tắc 5


Quy tắc 4: Đừng tự tay mình chỉnh sửa tổn thương đường mật

Ở quầy hàng gốm sứ, người ta thường có câu: "bạn làm vỡ nó, bạn phải mua nó". Câu này không đúng không trường hợp BDI. Bạn làm tổn thương ống mật chủ. Nhưng việc chỉnh sửa tổn thương không phải là của bạn. Điều gì bạn không biết, hãy cầu cứu mọi người. Trừ khi bạn là một chuyên gia về ghép gan đã thực hiện ít nhất 25 miệng nối ống gan-hỗng tràng, đừng cố gắng chỉnh sửa tổn thương đường mật. Một phẫu thuật viên ngoại tổng quát như tôi và bạn chỉ có 25% khả năng chỉnh sửa một đường mật bị tổn thương mà không có những di chứng sau này. Con số này ở các chuyên gia là 90%. Hãy làm một phép tính. Hãy đặt một ống dẫn lưu và liên lạc với một trung tâm tốt nhất và gần nhất nơi có các chuyên gia về ghép gan và can thiệp X-quang và chuyển bệnh nhân của bạn đến đó càng sớm càng tốt.

Quy tắc 5: Đừng bỏ ngoài tai những than phền của bệnh nhân trong thời gian hậu phẫu.

Bỏ ngoài tai những lới than phiền của bệnh nhân là vi phạm nguyên tắc chuyên môn. Bất kỳ một tiếng kêu cứu nào cũng phải được đáp ứng. Bạn cố quên một biến chứng có thể xảy ra không có nghĩa là bạn dứt bỏ được nó.

Một ca LC có biến chứng có thể không có dấu hiệu bất thường gì trong vòng 24-48 giờ. Vì thế, bất kỳ một sự than phiền hay một cuộc gọi nào vào phòng hành chánh từ phía bệnh nhân cũng phải được đánh giá một cách đầy đủ. Chậm trễ trong việc chẩn đoán và xử trí các biến chứng được xem là bất cẩn và đây là yếu tố buộc tội bạn sau này. Thời gian phát hiện biến chứng càng lâu, khả năng xử lý chúng càng khó và nguy cơ xảy ra di chứng sau này càng cao.

Tôi đã biết một trường hợp sai sót về chuyên môn mà ttrong đó tiếng kêu cứu của bệnh nhân đã bị bỏ qua và hậu quả mà biến chứng này mang đến cho bệnh nhân rất là bi thảm và cuối cùng cả bệnh nhân và bác sĩ đều gặp nhau ở tòa. Một trường hợp khác, sự than phiền của bệnh nhân bị bỏ qua suốt 12 ngày và cuối cùng bệnh nhân rơi vào tình trạng chướng bụng, nhiễm trùng nặng, vàng da và thiếu máu. Trong trường hợp thế này thì phẫu thuật viên chỉ có nước đầu hàng và cầu xin một sự tha thứ.

Gần đây, tôi có thực hiện một ca LC cho một phụ nữ 30 tuổi. Người phụ nữ này thuộc týp người dễ bị xúc động. Hai ngày sau mổ, cô ta gọi điện thoại báo rằng mình bị đau và chướng bụng và hơi thở ngắn.Tôi gặp cô ta trong phòng cấp cứu và trong vòng 3 giờ tôi đã có trong tay xét nghiệm công thức máu, chức năng gan, amylase, lipase và xạ hình gan (HIDA-hepatobiliary iminodiacetic acid). Kết quả bình thường. Cô ta vẫn than vãn. Chúng tôi xúc tiến một CT dựng hình mạch máu để loại trừ thuyên tắc động mạch phổi. May mắn là kết quả bình thường và cô ta cuối cùng cũng bình thường !. Điều này tốt đối với cô ta nhưng không tốt đối với tôi chút nào bởi vì tôi đã bỏ qua cơ hội để có chẩn đoán sớm hơn. Việc thực hiện một loạt các xét nghiệm có lẽ hơi phí tiền một chút, nhưng làm ít hơn thế sẽ nằm dưới tiêu chuẩn của sự chăm sóc. Một biến chứng có thể xảy ra không phải là chuyện cân đo đong đếm.

Kết luận:

Năm quy tắc nói trên không phải giúp bạn tránh hẳn BDI, nhưng nếu bạn tuân theo chúng, nguy cơ BDI sẽ giảm đáng kể và nó giúp bạn có cơ sở để bào chữa cho mình trong phiên tòa .

Cuối cùng, cho tôi đề cập đến một trong những biện hộ phổ biến của BDI trong phiên tòa. Đó là một "sai sót không cố ý". Một vài chuyên gia biện hộ rằng BDI là kết quả của một ảo giác, một sự giả định không chủ thức. Thông thường, khi một bác sĩ ngoại khoa gây ra một BDI, anh ta sẽ bào chữa cho bản thân mình và cố "cãi chày cãi cối", cho rằng anh ta không biết cái mà anh ta kẹp là ống mật chủ. Điều đó đúng và thực tế anh ta không nói dối. Nhưng cách lập luận nói trên không thuyết phục được tôi cũng như không thuyết phục được bồi thẩm đoàn. Cách lập luận này cũng giống như cách lập luận của một người lái xe tông phải người đi bộ đang qua đường trên phần đường dành cho mình. Người lái xe biện hộ rằng anh ta bị ảo giác, không quan sát thấy tấm biển báo ở bên đường. Cách lập luận này không được chấp nhận trong các vụ kiện về tại nạn lưu thông, càng không thể được chấp nhân trong LC.

May mắn là cho đến nay tôi chưa hề cắt ngang một ống mật chủ nào. Nếu điều này có xảy ra,, tôi sẽ không có cảm giác rắng mình không đáng bị trách mắng và biện hộ rằng không phải mình bất cẩn mà gây ra lỗi.Hơn nữa, cái ảo giác chết tiệt kia thực tế mà một tội phạm. Khi tôi bắt đầu được đào tạo ngoại khoa, chúng tôi đã được dạy rằng không được đổ thừa cho y tá, cho ánh sáng, cho chỉ khâu, cho dụng cụ, cho người phụ và cho bất kỳ điều gì khác. Và chắc chắn rằng không kết tội cái ảo giác. Cố gằng đừng gây ra biến chứng, nhưng nếu có lỡ gây ra chúng, bạn hãy nhận trách nhiệm về mình.

Khi một bệnh nhân yêu cầu bác sĩ cắt bỏ túi mật của mình, họ đã ký vào bản cam đoan và nhận thức được biến chứng như BDI là có thể xảy ra đối với mình. Tuy nhiên, họ không chấp nhận việc bác sĩ mổ cho mình rũ bỏ trách nhiệm nếu như họ thực hiện ca mổ trong sự bất cẩn.

Các đồng nghiệp của tôi, cho tôi kết luận rằng nếu như chúng ta không thể chụp hình đường mật, không chuyển sang mổ mở và gây ra BDI thì xem như chúng ta đã không biết tận dụng bản thân chúng ta trước những thông tin và như thế chúng ta đã phẫu thuật trong một trạng thái bất cẩn.

Tôi mong nhận được sự phản hồi từ các bạn

Dr. Seid là một phẫu thuật viên ngoại khoa tổng quát ở Los Angeles. Ông một CEO và nhà sáng lập của OR Technologies

Phác đồ nội soi khoang bụng chẩn đoán trong chấn thương bụng

Mở bụng thám sát đã được thực hiện trong một thời gian khá dài trước đây ở những bệnh nhân bị chấn thương bụng. Tuy nhiên, phương pháp này cho tỉ lệ "bụng trắng" khá cao và quan trọng hơn, có thể dẫn đến một số biến chứng sau mổ. Nội soi khoang bụng chẩn đoán được cho là tránh được việc mở bụng thám sát không cần thiết, giảm tỉ lệ biến chứng sau mổ, giảm chi phí điều trị.


Kỹ thuật:



Nội soi khoang bụng chẩn đoán thường được tiến hành trong điều kiện bệnh nhân được gây mê toàn thân. Tuy nhiên, vô cảm vùng kết hợp với việc sử dụng thuốc an thần đã được chứng minh là an toàn trong một số nghiên cứu. Trước khi tiến hành thủ thuật, bệnh nhân được đặt thông dạ dày và thông tiểu để giảm bớt áp lực tác động lên dạ dày và bàng quang. Xanh methylen có thể được cho qua đường tĩnh mạch, qua thông dạ dày hay thông tiểu để làm tăng cơ hội phát hiện tổn thương. Phần lớn phẫu thuật viên chọn bơm hơi khoang bụng dưới áp lực thấp (8-12 mm Hg), tuy nhiên áp lực khoang bụng lên đến 15 mm Hg cũng đã được áp dụng và không gây một biến chứng nào. Cần cảnh giác với biến chứng tràn khí màng phổi áp lực có thể xảy ra khi tiến hành bơm hơi khoang bụng, nếu bệnh nhân có tổn thương cơ hoành.

Việc vào khoang bụng được thực hiện bằng kim veress hay đặt trocar hở. Các trocar phụ có thể được sử dụng để vén các tạng và thực hiện các thao tác khác. Việc quan sát khoang bụng phải được thực hiện có hệ thống. Cần di động các đoạn đại tràng cố định và quan sát cả trong hậu cung mạc nối. Hệ thống hút rửa luôn cần thiết để cho việc quan sát được dễ dàng hơn.

Nếu có vết thương bụng, vết thương nên được khâu kín để tránh rò khí ra bên ngoài, và phải đánh giá có tổn thương lá phúc mạc thành hay không.

Ống soi có góc quan sát 30 độ là tốt nhất.

Chỉ định: nghi ngờ có tổn thương nội tạng mà chưa chứng minh được trên bệnh nhân bị chấn thương bụng kín hay vết thương thấu bụng. Các chỉ định riêng biệt khác:

-Nghi ngờ có tổn thương nội tạng ngay cả khi các phương tiện chẩn đoán hình ảnh cho kết quả âm tính
-Vết thương bụng, khi thám sát tại chỗ có tổn thương lớp cân
-Vết thương bụng do hỏa khí, nghi ngờ đạn đạo đi ngang qua khoang bụng.
-Chẩn đoán tổn thương cơ hoành trên bệnh nhân chấn thương bụng kín và vết thương thấu bụng.
-Tạo một cửa sổ màng tim ngang qua cơ hoành trong trường hợp nghi ngờ có chấn thương tim.
Chống chỉ định (tương đối hoặc tuyệt đối):
-Huyết động học không ổn định (huyết áp tâm thu nhỏ hơn 90 mm Hg)
-Có chỉ định mở bụng rõ ràng (có dấu viêm phúc mạc, sốc mất máu, phòi nội tạng...)
-Có dấu hiệu rõ ràng của tổn thương nội tạng
-Vết thương xuyên thấu vùng phía sau, nghi ngờ có tổn thương tạng rỗng
-Kinh nghiệm của người thực hiện thủ thuật còn giới hạn

Hạn chế của nội soi khoang bụng chẩn đoán là làm chậm trễ các can thiệp điều trị. Nguy cơ bỏ sót tổn thương của nội soi khoang bụng chẩn đoán cũng cao hơn mở bụng thám sát. Việc bỏ sót các tổn thương này có thể dẫn đến các biến chứng trầm trọng cho bệnh nhân. Các tổn thương bị bỏ sót bởi nội soi khoang bụng chẩn đoán thường được phát hiện muộn sau đó, do tâm lý chủ quan của bác sĩ điều trị. Mặt khác, bản thân thủ thuật nội soi khoang bụng chẩn đoán cũng có thể gây ra một số biến chứng cho bệnh nhân.

Tuy nhiên, nội soi khoang bụng chẩn đoán cũng có những ưu điểm vượt trội. Bệnh nhân sẽ tránh được một cuộc mở bụng mà không có tác dụng can thiệp, từ đó rút ngắn được thời gian nằm viện, chi phí cũng như những biến chứng mà cuộc mở bụng không can thiệp ấy gây ra. Đối với tổn thương cơ hoành, nội soi khoang bụng là phương tiện chẩn đoán có độ chính xác tuyệt đối.

Hơn nữa, ngoài tác dụng chẩn đoán, trong một chừng mực nào đó nội soi khoang bụng còn có tác dụng điều trị. Cuối cùng, giá trị chẩn đoán của nội soi khoang bụng được cho là cao, với điều kiện người thực hiện thủ thuật nội soi này phải có kỹ năng và kinh nghiệm chẩn đoán.

Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác trong chẩn đoán của nội soi khoang bụng dao động trong khoảng 50-75%. Tỉ lệ này có thể thay đổi phụ thuộc vào một số yếu tố. Khi nội soi khoang bụng được sử dụng như một phương tiện tầm soát ban đầu (chẳng hạn phẫu thuật viên sẽ chuyển sang mổ mở ngay khi thấy có dấu hiệu chỉ điểm thí dụ như lá phúc mạc thành bị thủng trong vết thương bụng, hay máu đang chảy hay dịch tiêu hóa trong chấn thương bụng kín...), tỉ lệ bỏ sót tổn thương của nội soi khoang bụng là dưới 1%. Trong trường hợp sử dụng nội soi khoang bụng để chẩn đoán những tổn thương chuyên biệt hơn (thí dụ chấn thương tụy hay các tạng sau phúc mạc khác) tỉ lệ bỏ sót tổn thương của nội soi khoang bụng có thể cao hơn. Trong các nghiên cứu trước đây, nội soi khoang bụng được cho là có độ nhạy thấp và tỉ lệ bỏ sót tổn thương cao đối với những tổn thương chuyên biệt nêu trên. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây đã công bố tỉ lệ bỏ sót tổn thương của nội soi khoang bụng là 0%, ngay cả trong trường hợp nội soi khoang bụng được sử dụng để chẩn đoán thương tổn chuyên biệt.

Tỉ lệ nội soi khoang bụng âm tính là 57% (17-89%) điều này có nghĩa là khoảng phân nửa bệnh nhân sẽ tránh được một cuộc mở bụng không cần thiết. Mặt khác, 6% các trường hợp nội soi khoang bụng dương tính được mở bụng nhưng cho kết quả âm tính. Như vậy nội soi khoang bụng có tỉ lệ dương tính giả là 6%. Trong khi hầu hết các phẫu thuật viên đều chuyển sang mở bụng khi nội soi khoang bụng cho kết quả dương tính, một số ít phẫu thuật viên vẫn tiếp tục tiến hành các thủ thuật can thiệp qua nội soi và cho kết quả thành công là 83%.
Biến chứng và kết quả:
Biến chứng do nội soi khoang bụng có thể lên đến 11% nhưng thường là các biến chứng nhẹ. Có 37 thử nghiệm trên tổng cộng 1999 bệnh nhân cho tỉ lệ biến chứng là 1%. Một số nghiên cứu gần đây cho tỉ lệ biến chứng 0%, tỉ lệ tử vong 0%. Các biến chứng thường gặp là tràn khí màng phổi áp lực do bỏ sót tổn thương cơ hoành, thủng tạng rỗng, rách tạng đặc. Việc đặt trocar cũng có thể gây tổn thương mạch máu (hầu hết là động mạch thượng vị và động mạch mạc nối). Tràn khí dưới da và tràn khí khoang ngoài phúc mạc cũng đã được một số nghiên cứu đề cập đến. Nhiễm trùng lổ đặt trocar cũng có thể xảy ra trong thời gian hậu phẫu.

Bệnh nhân có nội soi khoang bụng âm tính có thời gian nằm viện ngắn hơn đáng kể so với mở bụng âm tính (2-3 ngày so với 4-5 ngày). Trong trường hợp nội soi can thiệp, thời gian nằm viện có ngắn hơn nhưng không đáng kể (5,1 ngày so với 5,7 ngày). Đặc biệt, những nghiên cứu gần đây cho thấy bệnh nhân được nội soi khoang bụng trong phòng cấp cứu ở trạng thái tỉnh (vô cảm vùng) có thời gian nằm viện ngắn hơn đáng kể so với bệnh nhân được nội soi khoang bụng trong phòng mổ với gây mê toàn thân (7 giờ so với 18 giờ, p=0,001).

Khuyến cáo:

Nội soi khoang bụng về mặt kỹ thuật có thể được áp dụng cho một số bệnh nhân có chọn lọc thích hợp. Trên những bệnh nhân này, nội soi khoang bụng làm giảm tỉ lệ mở bụng trắng không đáng có và đồng thời cũng làm giảm tỉ lệ các biến chứng sau mổ. Những bệnh nhân thích hợp cho nội soi khoang bụng chẩn đoán là những bệnh nhân có huyết động ổn định và được nghi ngờ có tổn thương trong khoang bụng nhưng chẩn đoán hình ảnh lại cho kết quả mơ hồ (thậm chí chẩn đoán hình ảnh cho kết quả âm tính nhưng độ nghi ngờ cao thì cũng có chỉ định nội soi chẩn đoán). Đối với vết thương thấu bụng, nội soi khoang bụng là chỉ định thích hợp khi bệnh nhân đã được khẳng định hay nghi ngờ có tổn thương lớp cân thành bụng trước. Trong trường hợp nghi ngờ có tổn thương cơ hoành, nội soi khoang bụng là chỉ định tốt nhất. Nội soi chẩn đoán có thể kết hợp với nội soi điều trị nếu được tiến hành bởi các chuyên gia.

Phác đồ này được đề xuất bởi Hiệp hội Phẫu thuật viên Tiêu hóa và Nội soi Tiêu hóa (SAGES-Society of Gastrointestinal and Endoscopic Surgeons) tháng 11 năm 2007

Tổn thương đường mật sau cắt túi mật nội soi: thời điểm can thiệp


Ngày 17 tháng 8 vừa qua, phóng viên Karla Gale của Reuter đã có cuộc phỏng vấn Bác sĩ Alice C. Wei, Bệnh viện Tổng quát Toronto, Canada, thuộc nhóm tác giả đã công bố công trình nghiên cứu của mình trên tạp chí Ngoại khoa (Archives of Surgery, số tháng 8 năm 2010) liên quan đến thời điểm can thiệp phẫu thuật những bệnh nhân bị tổn thương đường mật do cắt túi mật nội soi gây ra.


Một trường hợp tổn thương đường mật được chẩn đoán trong lúc nội soi cắt túi mật

Cắt túi mật nội soi là một trong những phương pháp phẫu thuật được áp dụng phổ biến nhất hiện nay. Lợi ích của cắt túi mật qua nội soi so với cắt túi mật mổ mở ai cũng công nhận. Tuy nhiên, cắt túi mật nội soi có thể dẫn đến một tai biến mà trong giới y khoa đánh giá là trầm trọng. Đó là tai biến làm tổn thương đường mật.

Trên công trình nghiên cứu của mình, nhóm tác giả kết luận: tốt nhất là tiến hành phẫu thuật trong vòng 72 giờ đầu. Nếu tổn thương đường mật được phát hiện sau thời điểm ấy, nên phẫu thuật sau 6 tuần.

Kết luận này nhận được nhiều sự phản bác của nhiều phẫu thuật viên tổng quát. Theo một số ý kiến phản biện, thời điểm can thiệp phẫu thuật (chỉnh sửa tổn thương) nên dựa vào việc đánh giá mức độ tổn thương đường mật và tình trạng (nhiễm trùng, tắc mật) của bệnh nhân.

Cả hai phương án can thiệp đều hợp lý, Bác sĩ Wei nói với phóng viên, nhưng theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi, tốt nhất là can thiệp trong vòng 72 giờ đầu tiên.

Nhóm tác giả đã hồi cứu 69 ca tổn thương đường mật sau cắt túi mật nội soi (LC-BDIs, laparoscopic cholecystectomy associated bile duct injuries) trong khoảng thời gian từ 1-1-1992 đến 31-12-2007. Tất cả các ca này đều được phẫu thuật chỉnh sửa đường mật ngay sau khi có chẩn đoán tổn thương đường mật.

Có 13 ca được phẫu thuật trong vòng 72 giờ đầu tiên sau cắt túi mật nội soi, 34 ca được phẫu thuật trong khoảng thời gian 3 ngày đến 6 tuần, 12 ca được phẫu thuật sau 6 tuần.

Về phân loại tổn thương đường mật, có 1 ca (1%) Strasberg type A, 2 ca (3%) Strasberg type D, 22 ca (32%) Strasberg type E 1, 16 ca (23%) Strasberg type E 2, 22 ca (32%) Strasberg type E 3, 4 ca (6%) Strasberg type E 4 và 2 ca (3%) Strasberg type E 5.

Có 41 ca (59%) được nối ống gan-hỗng tràng, 24 ca (35%) được nối ống mật chủ-hỗng tràng. Phẫu thuật cắt gan phải kèm tái tạo đường mật được tiến hành ở 3 ca (4%). Có 1 ca (1%) được nối ống mật chủ nguyên phát.


Phẫu thuật nối ống mật chủ-hỗng tràng theo phương pháp Roux-en-Y

Có 1 bệnh nhân tử vong (tỉ lệ 1%). Tỉ lệ biến chứng chung sau mổ là 30% (22 bệnh nhân). Biến chứng sớm (trong vòng 1 tháng sau mổ) xảy ra ở 12 bệnh nhân (17%), chủ yếu là viêm mũ đường mật, áp-xe tồn lưu và nhiễm trùng vết mổ.

Biến chứng muộn chủ yếu là hẹp đường mật (10 ca, 14%).

Công trình nghiên cứu kết luận: can thiệp chỉnh sửa đường mật trong giai đoạn trung gian có tỉ lệ hẹp đường mật cao nhất (p=0,03%).

Không có mối liên quan giữa biến chứng sớm sau mổ với: tuổi tác, giới tính, bệnh viện tiến hành phẫu thuật, mức độ tổn thương đường mật, dò mật, vàng da, nhiễm trùng, thời gian can thiệp, phương pháp can thiệp.

Nhóm tác giả của công trình nghiên cứu khuyến cáo: nên can thiệp chỉnh sửa LC-BDIs hoặc trong vòng 72 giờ, hoặc 6 tuần sau cắt túi mật nội soi.

Trong buổi phỏng vấn trên Reuter, Bác sĩ Wei nhấn mạnh: mặc dù tỉ lệ tổn thương đường mật trong cắt túi mật nội soi cao hơn một chút so với cắt túi mật mổ mở, cắt túi mật nội soi vẫn là lựa chọn tốt hơn. Để hạn chế tối đa nguy cơ xảy ra LC-BDIs, phẫu thuật viên nên tiến hành thao tác với một thái độ hết sức cẩn trọng , lường trước những yếu tố khó khăn có thể làm cho cuộc mổ thêm phức tạp trước và trong lúc mổ. Một điều quan trọng khác: cảnh giác cao độ khả năng xảy ra tổn thương đường mật. Nếu tổn thương đường mật được phát hiện ngay trong cuộc mổ cắt túi mật nội soi, phẫu thuật chỉnh sửa ngay sẽ cho kết quả tốt nhất.

Kinh nghiệm cho thấy, tổn thương đường mật thường gây ra bởi các phẫu thuật viên trẻ, thiếu khả năng nhận định, tâm lý chủ quan và hay háo thắng. Thật không may, những phẫu thuật viên này thường "để quên" tổn thương đường mật mà chính mình gây ra và "vô tư" cho đến khi bệnh nhân bắt đầu xuất hiện dấu hiệu tắc mật, dò mật, viêm đường mật, nhiễm trùng trong khoang bụng...

Tạo sao phẫu thuật chỉnh sửa trong giai đoan trung gian (3 ngày đến 6 tuần) lại chi tỉ lệ hẹp đường mật cao nhất, phóng viên Reuter hỏi và Bác sĩ Wei trả lời: có thể trong môi trường viêm các miệng nối thường lành với tối thiểu collagen và tối đa mô xơ. Chúng ta biết rằng collage là yếu tố tối quan trọng trong cơ chế lành của miệng nối.

Buổi phỏng vấn cũng nhận được nhiều ý kiến phản bác. Một trong những ý kiến phản bác xuất phát từ Bác sĩ Delawir Kahn và cộng sự của Khoa Sức Khỏe Đại học Cape Town (Nam Phi).

Theo Bác sĩ Kahn, yếu tố chính quyết định thời điểm can thiệp và phương pháp can thiệp nằm ở chỗ: hầu hết LC-BDIs đều không được phát hiện trong lần phẫu thuật đầu tiên (cắt túi mật nội soi) và khi được phát hiện, hầu hết bệnh nhân đều trong tình trạng nhiễm trùng trong khoang bụng, vàng da, suy kiệt và giảm albumin huyết tương...

Trong trường hợp đó, nhóm nghiên cứu trả lời: tất cả các trường hợp tụ dịch mật nhiễm trùng trong khoang bụng đều có thể được dẫn lưu tốt qua da hay thậm chí qua cuộc mổ lại qua nội soi. Một khi ổ tụ dịch mật đã được dẫn lưu tốt, thường ít khi nào có chỉ định can thiệp chỉnh sửa đường mật vào thời điểm đó.

Tổng hợp từ Medscape, Reuter và Arch Surg. 2010; 145(8): 757-763